• tác giả

Lưu Thuỷ Hương – Mùa cách mạng

Tháng chín năm con cọp, tôi vô lớp một. Ngày nhập học đầu tiên, tôi ôm cột nhà khóc ướt mèm bộ đồng phục mới. Cô giáo không có cây roi mây như chị Hai vẫn dọa, nhưng cô còn nghiêm khắc đáng sợ hơn cây roi mây. Tôi bị bắt ngồi im một chỗ, bị bắt nhận mặt chữ cái và bị bắt đánh vần ê a.

Tháng tư năm con mèo, thành phố được giải phóng, trường tiểu học tư thục của cô giáo được đóng cửa. Tôi được ở nhà chờ ngày chuyển sang trường phổ thông cơ sở, hân hoan nhận ra rằng, mình bỗng được giải phóng khỏi chuyện học hành nghiêm túc. Tôi được gọi đi theo phong trào thiếu nhi, được học những bài hát vỗ tay hoan hô, được tập nhảy choi choi điệu kết đoàn. “Kết đoàn, chúng ta là sức mạnh. Kết đoàn, chúng ta là sắt gang.”

Cuộc sống mới cuốn mọi người theo, mùa cách mạng bừng bừng khí thế, ai ai cũng bận rộn hớt hải.

Ông bà ngoại bận xếp hàng cả ngày ngoài cửa hàng lương thực. Hễ nghe chòm xóm chộn rộn la lên, mấy ông bà già lập cập vác bao tải chạy. Ông bà ngoại thay nhau chen lấn đổ mồ hôi, hoảng hốt nghe những lời chửi rủa lạ tai, lập cập đẩy về nhà mấy bao khoai mì, khoai lang thúi. Bà ngoại cặm cụi gọt rửa hai bao tải để còn được hai nồi khoai luộc. Phần không ăn được để ông ngoại bón cây.

Mẹ bận chạy tới chạy lui, tìm cách bán dần đồ đạc trong nhà. Mẹ ngồi lui cui gói bộ chén dĩa kiểu, để lén mang ra bán ở chợ trời. Mấy chú bộ đội thích mua về quê làm quà. Tôi hớn hở khoe, cán bộ phụ trách đội vừa thông báo cho thiếu nhi, miền Bắc sẽ viện trợ cho miền Nam một triệu cái chén, một triệu đôi đũa. Tôi chỉ biết đếm tới một ngàn, một triệu là con số vĩ đại. Mẹ ầm ờ nghe rồi chặc lưỡi, dứt khoát gói thêm cái tô sứ vẽ hoa lan.

Ba được đi học tập cải tạo, hẹn chị em tôi mười ngày về. Tôi lẩm nhẩm đếm từng ngày. Ngày thứ mười, chị em tôi hớn hở chạy ra, chạy vô đón ba. Đợi đến chiều, đợi suốt ngày hôm sau. Mẹ khóc. Mấy cô giáo bạn mẹ thậm thụt tới nhà, vẻ mặt ai cũng lo lắng sợ sệt. Rồi họ ôm nhau sụt sịt khóc. Chị em tôi ngơ ngác khóc theo.

Hồ sơ học sinh của tôi được chuyển sang trường mới, tôi được xếp lộn vô lớp ba. Mẹ lo lắng chạy tới chạy lui, xin xét lại, xin cho tôi xuống bớt một lớp. Cô hiệu trưởng nói, công việc tiếp quản trường còn nhiều việc quan trọng hơn. Tôi được vô học chung lớp với con trai cô là vinh dự lắm. Con trai cô là học sinh giỏi của miền Bắc, sẽ kèm cặp những trường hợp cá biệt như tôi. Hoá ra tôi là học sinh cá biệt. Con trai cô tên Phú, lớp trưởng. Phú lớn hơn tôi hai tuổi, cao hơn cả cái đầu, hay nhéo tai bạn bè và hay hỉ mũi vung vãi. Các bạn trong lớp trò chuyện với nhau đều xưng tên. Phú nói, chỉ có bọn tiểu tư sản miền Nam mới xưng hô như thế. Phú lớp trưởng bắt mọi người gọi nhau là cậu, xưng tớ. Tôi kêu “cậu Phú”  xưng tớ rồi phì cười, thấy mình giống đầy tớ nói chuyện với cậu chủ. Cậu Phú không cười mà chửi một tiếng kỳ dị rồi nhéo tai tôi. Cậu Phú hát lắm, hay nhất là bài “Lá Đỏ”. Cậu nai nịt gọn gàng, áo bỏ vô quần, vai vác cây chổi quét lớp, nhịp từng bước hùng dũng. “Gặp em trên cao lộng gió. Rừng Trường Sơn ào ào lá đỏ.” Lớp tôi không ai vác chổi mà hát hay được như vậy.

Cậu Phú ở nhà thằng Đức, mặc áo quần thằng Đức, đeo cái cặp táp có hình con mèo của thằng Đức. Thằng Đức là bạn hàng xóm của tôi, gia đình nó ra đi hôm tháng Tư, vội vã tới độ không kịp tạm biệt bạn bè. Một lần đi ngang căn nhà có hồ cá kiểng, tôi đứng nhìn vô, mơ màng nhớ thằng bạn có cái răng sún hay cho tôi ăn kẹo. Kẹo dâu màu hồng, kẹo chanh màu vàng, kẹo cam màu… cam. Cậu Phú núp sau hàng rào dâm bụt ôm cây súng nhựa của thằng Đức, la lên the thé:

“Mật thám. Quân dân chiến sĩ ta, xông vào bắt tên phản động! Đoành! Đoành!”

Tôi hoảng quá co cẳng chạy tuốt về nhà.

Nhà trường hướng dẫn những học sinh cá biệt như tôi viết thư cho cha trong trại cải tạo. Tôi hăm hở đọc đi đọc lại mẫu thư đã có sẵn, do cô hiệu trưởng phổ biến. Lá thư này hồi đó cậu Phú viết cho bố cậu ở chiến trường miền Nam. Cô hiệu trưởng dặn dò, thư viết đúng chủ trương thì thư mau đến, viết sai là thư đi mất tiêu luôn. Tôi khoe với cậu Phú:

“Cậu Phú ơi, tớ phải viết theo mẫu thư của cậu.”

Cậu nhún vai:

“Tớ cũng thế. Cũng phải chép lại cho đúng. Thư này do cô chủ nhiệm cũ của tớ đưa mẫu.”

Tôi an tâm chép lại nguyên xi lá thư của cô chủ nhiệm cậu Phú.

“Chiều hôm qua, con và các bạn trong chi đội Lê Văn Tám bơi thuyền qua sông gặt lúa cho hợp tác xã. Chúng con còn về thôn chăm nom, giúp đỡ các bà mẹ liệt sĩ neo đơn.”

Tôi lén bỏ tác phẩm của mình vô bao thơ của mẹ. Ba nhận được thư hoảng hốt hồi âm.

“Gia đình mình chuyển nhà từ bao giờ? Sao không kể rõ? Sông đó tên gì? Rộng sâu ra sao? Chèo thuyền sang có nguy hiểm không?”

Chẳng ai hiểu ba hỏi chuyện gì, chỉ có tôi vừa đọc thư vừa nhăn răng cười.

Mẹ vẫn táo tác chạy, buổi sáng chạy tới trường, buổi chiều chạy ra chợ. Tấm áo dài cắt bỏ hai vạt thành áo bà ba, mẹ chẳng còn giống cô giáo. Đồ đạc trong nhà tôi chuyển dần sang nhà bà cán bộ ở đầu ngõ. Chiều nay, mẹ đưa tủ lạnh sang nhà người ta, lủi thủi chở về bao gạo. Góc nhà bếp trống trơn. Tôi nhìn khoảng gạch bông vuông vức còn chưa đổi màu, buột miệng hỏi:

“Bao giờ mình có tủ lạnh mới?”

Mẹ không trả lời, ôm mẹt chạy ra chợ bán nhu yếu phẩm. Quản lý chợ vây ráp, mẹ lại ôm mẹt chạy về nhà. Mẹ than, cô giáo thường chạy chậm nên hay bị bắt lắm. Trường mẹ có cô giáo bị bắt, phải viết kiểm điểm về tội phá hoại kinh tế.

Trong cư xá này có hai người nổi tiếng. Người thứ nhất là bà điên, hay đứng đầu chợ chải tóc. Tóc bà dài tới gót chân. Bà bán xôi nói, hồi đó bà điên đẹp lắm, bình thường lắm. Tại chồng bà tử trận nên bà mới hoá điên. Thỉnh thoảng bà điên cởi hết áo quần, leo lên nóc nhà bà bán xôi ngồi cười khóc ghê rợn. Người nổi tiếng thứ hai là bà Sáu bán thuốc bắc bây giờ được gọi là “bà Sáu Giải Phóng”. Bà Sáu Giải Phóng cũng có chồng tử trận nhưng bà mau chóng giác ngộ, cởi bỏ hết buồn thương, nhiệt tình ủng hộ chế độ mới. Tuy nổi tiếng sau, nhưng bà Sáu sáng chói hơn bà điên nhiều. Cả xóm thấy bà mặc áo nhung đỏ, quần sa tanh trắng, đeo kiềng vàng, quấn khăn rằn nhảy lên sân khấu hát oang oang. Mùa thu rồi ngày hăm ba, ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến. Bà Sáu Giải Phóng  kiếm đâu được cái nón tai bèo đội lên đầu đi ào ào, tác phong quân đội, oai thiệt là oai. Một đám con nít lóc nhóc chạy theo sau. Bà điên đứng xõa tóc ở đầu cổng chợ cũng liệng lược, bám theo đám con nít, vừa chạy vừa cười hí hí. Bà Sáu đi trước oang oang hướng dẫn, phân chia công tác cho đội thiếu nhi. Bà còn dạy thiếu nhi trong cư xá ca hát múa hoạt cảnh, vui thiệt là vui. Tôi được phân công bưng màu cho bà Sáu vẽ phông sân khấu. Tôi đứng bưng màu suốt hai buổi chiều, quyết không run tay vì theo lời bà Sáu, đây là công tác cách mạng rất quan trọng. Bà Sáu nói, cả cư xá đang khẩn trương chuẩn bị đêm văn nghệ đầu tiên chào mừng sinh nhật Bác.

Buổi chiều diễn văn nghệ, mấy anh chị thanh niên đeo băng đỏ vác gậy tầm vông tới tận nhà lùa ông bà ngoại đi xem. Sân khấu ráp bằng bàn ghế học trò, dựng giữa sân trường tiểu học. Ông bà ngoại với quần chúng nhân dân kê dép ngồi dưới đất. Đội bảo vệ trật tự vây kín ở bên ngoài. Ai có muốn về cũng không dám. Tôi đứng sau tấm phông màn màu xanh của bà Sáu, vẫy tay lia lịa cho ông bà ngoại thấy. Tôi mặc cái váy xòe màu trắng, hàng viện trợ của Mỹ, hăm hở chờ tới phiên mình ra sân khấu. Hôm dợt thử bà Sáu có nói, con nhỏ này hát không hay nhưng hát to khủng khiếp. Tôi khoái quá, càng quyết hát to để đạt thành tích. Bà Sáu vừa kêu tôi ra sân khấu là tôi lấy hết sức gào lên.

“Em là búp măng non. Em lớn lên trong mùa cách mạng.”

Tôi hát cho ông bà ngoại nghe. Tôi hát cho mẹ tôi ở nhà cũng phải nghe. Hát tới lạc giọng. Bà điên nghe tôi hát chắc là cảm động quá. Bà đột ngột nhảy lên sân khấu, xông vô ôm tấm hình Bác hun chùn chụt. Khán giả, ca sĩ đều la thất thanh. Là vì bà điên không mặc quần áo. Trắng loá dễ sợ lắm. Đội bảo vệ trật tự hớt hải cầm gậy tầm vông xông lên vây bắt bà điên. Họ rượt bà chạy vòng vòng trên sân khấu. Người bà trơn tuột, ai vồ cũng vuột. Bà khoái quá, ẹo qua ẹo lại, cười hí hí. Người lớn la ré lên: “Mấy đứa con nít nhắm mắt lại !” Tôi đứng ngay trên sân khấu chỉ nhắm mắt he hé, để còn nhìn thấy cảnh người ta rượt nhau. Bà điên vẫn ôm hình Bác, vừa chạy vừa hun chùn chụt. Bà Sáu lại la lên: “Mấy đứa con nít nhắm mắt lại.” Hoá ra mấy đứa nhỏ khác cũng đang nhìn lén.Tôi sợ lỡ thấy thì học ngu nên hoảng quá nhắm tịt hai mắt, nhưng rồi lại he hé mở ra nhìn. Một anh bảo vệ cũng nhắm mắt he hé, anh giật đại tấm phông sân khấu chụp lên người bà điên. Mấy anh khác cũng nhắm mắt he hé xông vô quấn chặt bà. Gậy gộc lăm lăm thiệt là ghê. Bà điên bị quấn trong tấm màn xanh có vẽ hoa, tưởng là vùng vẫy ghê lắm, không ngờ bà khoái quá đứng im cười ngặt nghẽo.

Mấy anh băng đỏ quấn màn trói bà điên xong mới phát hiện ra chuyện động trời. Tấm hình cũng bị quấn luôn trong đó. Bà Sáu là người la lên đầu tiên, bởi vì tấm màn của bà mà tấm hình cũng của bà. Bà Sáu la the thé, cởi màn trả lại cho tui, coi chừng… Bác. Bà điên đang sung sướng quấn màn vẽ hoa, ôm hình Bác, đâu chịu cho ai cởi ra. Mấy anh vừa đụng tới, bà nhe răng đòi cắn, vũng vẫy dữ dội rồi lại khoái chí cười hi hí. Người ta đành phải giữ nguyên tấm màn trên người bà, đẩy bà đi ra cửa. Đám đông ở dưới chộn rộn, xỏ dép bỏ về. Bà ngoại nắm tay tôi lôi đi tuồn tuột. Bà Sáu mất tấm màn chạy tới chạy lui, la làng gọi khán thính giả ở lại. Nhưng không ai ở lại. Tôi theo ông bà ngoại về, dọc đường cứ nhớ bà điên. Tôi chẳng học hành gì mà tới cuối năm cũng được lên lớp. Mẹ mừng quá, thôi than thở, thôi nghĩ tới chuyện xin cho tôi tuột lớp. Tôi cũng không thích tuột lớp. Học chung với tụi con nít thì chán chết.

Đám bạn thân của tôi trong xóm dần dà biến mất hết. Cư xá bây giờ chỉ còn ít người quen, những người mới lại nhiều thêm. Những căn nhà nhỏ xinh đẹp, có vườn hoa ao cá, bị vây kín mít bằng những tấm tôn, tấm bạt. Ở trong đó người ta cuốc xới lên trồng khoai mì khoai lang, đào ao cá tra, xây chuồng heo. Những người chủ mới chẳng bao giờ chào hỏi hay nở nụ cười. Những người cũ như gia đình tôi cũng co rút lại, cũng thôi luôn chào hỏi, thôi luôn nụ cười. Có hôm đi học về, tôi đứng bên đường, bàng hoàng nhìn người ta niêm phong cổng nhà đứa bạn hàng xóm. Một đứa bạn nữa lại theo gia đình trốn đi, sống chết ra sao, tôi không bao giờ biết được.

Lên lớp năm, học sinh bắt đầu được đeo khăn quàng đỏ. Thấy oai lắm. Cô hiệu trưởng nói, nếu các học sinh cá biệt ráng phấn đấu thì bố đương sự cũng mau được khoan hồng. Tôi nghe thông báo, gật đầu lia lịa. Quyết tâm phấn đấu.

Năm con rắn, thiếu niên toàn quốc phát động phong trào “Em yêu đường sắt quê em.” Đội thiếu niên thành phố Hồ Chí Minh hăng hái hưởng ứng, đề ra mục tiêu cụ thể mang tên “Em làm kế hoạch nhỏ,” thu gom giấy vụn ve chai để mua xe lửa.

Buổi chiều đi học về, tôi hăm hở theo chi đội Lê Văn Tám vác bị gậy ra đi. Chi đội của tôi đào bới cả buổi chiều ngoài bãi rác tìm giấy vụn. Tin tức vừa đưa về trường, tin vừa đăng trên báo khăn quàng đỏ, có dũng sĩ kế hoạch nhỏ đạt thành tích nộp hơn 1000 kg giấy vụn. Tụi tôi hồ hởi, phấn khởi quá, lại gò lưng bươi rác.

Bà điên bị bắt mấy năm trước, từ hôm văn nghệ, bỗng nhiên lại lù lù chui ra từ ổ rác. Bà nhận ra tôi, khoái quá cười hịt hịt. Giọng cười của bà bây giờ khàn đặc. Tôi nghe người lớn xì xầm, bà điên bị tình nghi là CIA. Bà bị nhốt trong trại cải tạo, không hiểu sao lại mò về được. Nhà cũ của bà đã có chủ mới và một đàn heo. Bà ốm tong teo, đen đúa, xấu đi nhiều chứ không dễ coi như hồi đó. Mái tóc dài chỉ còn lưa thưa, lòng thòng dính vỏ chuối, lá chuối. Hàm răng rụng hết, đen thui thấy ghê lắm. Bà cũng lăn vô lượm rác bỏ bao phụ tôi, lượm lung tung, mảnh chai, chổi gãy, giẻ rách. Tôi la làng, bà ơi, con chỉ cần giấy thôi. Bà điên cười hịt hịt, bỏ luôn túm cùi bắp mốc xanh vô bao tải. Tôi lếch thếch vác cái bao nặng chịch về nhà. Bà ngoại đang ngồi gọt khoai sùng la lên thất thanh, trời ơi, con nhỏ này hôi hơn đống khoai mì thúi. Tôi gãi đầu, gãi cổ, gãi tai, gãi tới đâu ngứa tới đó. Tôi gãi mép, cười hi hi, ở ngoài bãi rác đâu chỉ có khoai mì thúi. Bà ngoại lôi tôi ra sàn nước chà rửa tới tróc da, cấm luôn chuyện đi moi rác.

Anh Măng Non với anh Mỏ Lết trên báo Khăn Quàng Đỏ nói, không thể lùi bước vì khó khăn. Chị phụ trách đội nói, toa xe lửa dài lắm rồi, chỉ còn thiếu mấy cái bánh là chạy  được. Tôi gãi đầu chạy ra chạy vô, không biết tâm sự với ai. Ai cũng bận việc. Tôi len lén ôm bao lủi vô nhà kho. Trong đó có đống sách lớn đóng bụi. Tôi cầm cuốn sách bìa đỏ trên cùng, định xé từng tờ. Ánh sáng lọt qua khe cửa, soi lên trang mở đầu, dòng chữ viết tay ngay ngắn trang trọng hiện ra. “Xin hãy yêu quý sách.”  Tôi xoa ngón tay lên đó, lẩm nhẩm đọc đi đọc lại. Đó là chữ viết của ba. Tôi hoảng quá, lật đật mở những cuốn sách khác, trang đầu tiên nào cũng hiện ra một hàng chữ thẳng đều. “Xin hãy yêu quý sách.” Thiệt là lạ, có biết bao nhiêu là sách trong kho, chắc ba phải dành nhiều thời gian lắm để viết tỉ mỉ cho từng cuốn như vậy. Mẹ nói, đây là những cuốn sách người ta tìm để đốt đi. Sao không để giấy mua xe lửa mà lại đốt đi. Chiếc xe honda của ba cũng đóng đầy bụi, đứng lặng lẽ ở góc tường. Mẹ đã bán hết đồ đạc, chỉ còn cố giữ lại chiếc xe, chờ ba về. Tôi ngồi xuống sàn nhớ lại những ngày êm ấm. Những buổi chiều đi dạy học về, ba hay chở chị em tôi đi ăn phở Tàu Bay. Ba đi lâu lắm rồi, tôi bỗng sợ một lúc nào đó sẽ quên mặt ba. Cả mùi phở nóng tôi cũng quên mất từ bao giờ. Tôi chùi nước mắt, ôm cái bao không đi ra cửa.

Tôi vác bao giấy cũ moi được ngoài đống rác tới trường. Chị phụ trách vui vẻ đặt mơ ước của tôi lên bàn cân. Kim chỉ… hai ký. Nước mắt tôi chực trào ra, phải cố gắng kinh khủng lắm mới không khóc. Chị phụ trách ghi vô sổ năm ký, đẩy tôi qua bên. Một đứa khác liền le te chiếm chỗ. Tôi trợn mắt đứng tần ngần phía sau, tưởng là nhìn lộn. Hay chị phụ trách ghi lộn. Một tháng sau, cả lớp tôi nhận được giấy khen. Đứa nào cũng thành chiến sĩ kế hoạch nhỏ. Tôi lẩm nhẩm đọc hoài hàng chữ đỏ ghi thành tích. Mười ký giấy vụn. Khoái quá. Mười ký. Ba sắp về rồi.

Lớp tôi chuẩn bị văn nghệ cho lễ kết nạp đội viên thiếu niên tiền phong. Đợt kết nạp này sẽ có năm đứa. Trong lớp, tôi xếp hạng năm chắc thế nào cũng được đeo khăn quàng. Buổi lễ kết nạp đội viên, tôi không nghe người ta kêu tên mình. Chị phụ trách nói:

“Em ngoan lắm, nhưng chờ đợt sau nghen. Lần này tiếc quá chỉ chọn năm bạn.”

Đợt sau, tên tôi vẫn không có.

Chị phụ trách vẫn nhiệt tình động viên: “Em chờ đợt sau nghen. Ráng phấn đấu thêm. Tiếc quá lần này…”  Tôi đã lớn lên dần dần, đủ để nhận ra, chị phụ trách nói vậy mà không hề đỏ mặt. Tôi rầu rĩ lắc đầu:

“Thôi, khỏi cần. Ba em sắp về rồi.”

Cậu Phú đứng kế bên cười ré:

“Ba nó đế được về. Ba nó là nguỵ quân, nguỵ quyền, có nợ máu với nhân dân.”

Lời nói của cậu Phú làm tôi chảy nước mắt:

“Tưởng tụi mình là bạn nhau.”

“Mẹ tớ bảo, đế tin được đứa nào, phải luôn cảnh giác với bọn phản động.”

Tôi co rúm người lại, lùi về phía sau. Lưng tôi đụng trúng cạnh bàn, không còn lùi thêm được. Tôi phải đứng yên đó, tự nhiên thấy chật chội nóng nực gì đâu. Cả người tôi nóng hừng hực. Nóng thấy ghê. Nóng hết chịu nổi. Tôi cúi đầu, bật phóng tới như cái hoả tiễn. Đầu của tôi húc ngay vô bụng cậu Phú, thấy mềm mềm. Cậu té lăn quay ra đất, thét la rùng rợn. Chị phụ trách chẳng việc gì mà cũng la lên ầm ĩ. Tôi hoảng hồn co cẳng chạy tuốt về nhà, giả bệnh nghỉ học hai ngày mới dám quay lại trường.

Chuyện tôi húc con cô hiệu trưởng lẽ ra phải là một trọng tội, nhưng chẳng ai thèm quan tâm tới, vì cậu Phú đánh lộn lung tung. Tôi với cậu chỉ giận nhau vài bữa rồi lại làm lành, nhưng từ bữa đó không thấy cậu nhéo tai tôi nữa.

Ba tôi ra tù. Gia đình tôi chuyển về sống ở khu xóm đạo. Con nít xứ này không đeo khăn quàng đỏ. Tụi nó bĩu môi kêu mấy đứa đội viên thiếu niên tiền phong trong trường là mấy con cá thờn bơn. Tôi hớn hở cười theo, để lại sau lưng mình một mùa cách mạng tưng bừng. Quên cậu Phú. Quên chuyện phấn đấu vô đội. Quên mấy bài hát tập thể của bà Sáu. Tôi để tóc dài, theo bạn đi lễ nhà thờ, đọc kinh thánh như nước chảy.

Cuối năm học, tôi là học sinh tiên tiến. Thầy giáo chủ nhiệm nói:

“Em chuẩn bị tinh thần nghe. Tuần sau làm lễ kết nạp vô đoàn.”

Tôi giật mình:

“Trời. Đoàn gì? Em đâu có thích.”

Thầy giáo đang tức tối chuyện gì, bỗng la lên:

“Không nói nhảm. Đó là chỉ thị. Một trăm phần trăm học sinh tiên tiến phải là đoàn viên.”
 
12.2009